Blog

NHỮNG LOẠI CÂY THÂN GỖ CHỊU NẮNG HẠN

Cây Neem Ấn Độ (azadirachta indica)

Cây neem hay còn gọi là xoan Ấn Độ, được trồng chủ yếu ở tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, địa phương có khí hậu khô cạn nhất nước ta. Hiện tại cây neem được trồng với mục đích phủ xanh đất trống, cải tạo môi trường. Tuy nhiên với những hoạt tính sinh học, cây neem cón là nguồn nguyên liệu làm thuốc bảo vệ thực vật và sản xuất một số chế phẩm khác.

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, hầu như tất cả các bộ phận của cây neem đều chứa chất có hoạt tính sinh học, nhiều nhất ở hạt và lá như chiết xuất từ dầu neem: có ba hoạt chất là nimbin, nimbinin, nimbidin.

Từ hạt chứa hoạt chất azadirachtin và từ lá neem được coi hữu dụng trong phòng chống bệnh sốt rét mặc dù nghiên cứu lâm sàng chưa được đầy đủ. Các sản phẩm được chế biến từ hạt và lá neem đều có hoạt tính trừ sâu, nấm gây bệnh, tuyến trùng, ức chế phát triển, giảm khả năng đẻ trứng và có đặc tính xua đuổi côn trùng. Đã có một số thuốc bảo vệ thực vật được sản xuất và thương mại dựa trên hoạt chất là dầu neem và các hoạt chất chiết từ nhân hạt neem, lá neem.

Ngoài ra dịch chiết lá, hạt và dầu neem được sử dụng phổ biến để phòng trị một số bệnh trong y học như chống nhiễm trùng, tẩy giun sán, sốt rét. Dầu neem và dịch chiết lá neem còn được phối trộn với một số phụ gia để sản xuất một số loại mỹ phẩm như kem dưởng da, kem chống muỗi, xà phòng vệ sinh…

Nguồn: Azadirachta indica-wikipedia,the free
www.siêu thị nông nghiệp.com/news/654-cay –neem-an-do.html.

H1. Cây Neem

Trung tâm Thông tin và Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Bình Thuận đã thực hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ sinh học nhân nhanh giống cây neem bằng phương pháp nuôi cấy mô thực vật”, giúp bà con nông dân đảm bảo nguồn giống tốt.

Qua hai năm thực hiện, (đến năm 2010) trung tâm đã nhân được hơn 5.000 cây Neem(cây xoan chịu hạn) trong nhà lưới, trong đó có hơn 3.000 cây Neem giống đủ điều kiện trồng rừng; tiến hành trồng thử nghiệm một ha cây Neem nuôi cấy mô (khoảng 1.000 cây) tại Lâm trường Tuy Phong.

Cây Neem nuôi cấy mô thích nghi tốt với điều kiện khí hậu khô hạn ở Tuy Phong; đạt tỉ lệ sống gần 100%, chiều cao đạt trung bình 90cm, đường kính gốc đạt trung bình 0,6cm...

Nguồn http://www.vietnamplus.vn/

Cây Neem là loại cây gỗ trung bình, đường kính 40- 50 cm cao tứ 12-15 mét. Cây Neem là cây đa tác dụng: Gỗ làm hàng mộc, hàng mỹ nghệ, có thể làm bột giấy, ván dăm, ván ghép thanh ..vv..v. Lá và quả Neem dùng làm phân, thuốc trừ sâu, xà phòng diệt khuẩn.

   

H2-3- Hoa và quả cây Neem


Điều kiện về đất.
Cây Neem  sinh trưởng tốt trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, ẩm, thoát nước tốt. Các loại đất có thành phần cơ giới nặng, thoát nước kém hay đất bí chặt không thích hợp cho việc trồng Neem.


Điều kiện về khí hậu. 
+ Sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ trung bình năm từ 24<sup>o</sup>c- 30<sup>o</sup>c. Ở nơi có nhiệt độ trung bình tháng từ 20<sup>o</sup>C, cây Neem sinh trưởng quanh năm.
+ Lượng mưa trung bình năm từ 600mm-1200 mm.

H4. Rừng cây Neem

Cây Neem có thể trồng toàn diện thuần loại hoặc trồng hỗn giao theo băng rộng.
+ Trồng toàn diện: Bố trí cự ly 3m*4 m ( Cây cách cây 3 mét, hàng cách hàng 4 mét). Mật độ trồng 840 cây/ha
+ Trồng hỗn giao: Neem + Cây phù trợ theo băng rộng tỷ lệ hỗn giao 4+7 ( trồng 8 hàng keo + 14 hàng Neem). Cự ly cây cách cây 2 mét, hàng cách hàng 4,5 mét). Mật độ 1.100 cây/ ha ( 700 cây Neem + 400 cây phù trợ)

CÂY TRÔM

 

Giá trị sử dụng

Trôm (Sterculia Foetida L.), tên tiếng Anh là Bastard poom thuộc họ Sterculiaceae, là loài cây gỗ lớn sống lâu năm. Trồng Trôm khoảng 20 năm thì cho khai thác, gỗ trôm không bị mối mọt, có thể dùng làm bao bì, quan tài, làm bột giấy, ván dăm, ván sợi gỗ. Trôm là loài cây đa mục đích, có giá trị kinh tế cao, rất phù hợp trồng ở vùng bán sơn địa, vùng khô hạn. Trôm là cây được sử dụng trong cơ cấu cây trồng rừng kinh tế và phòng hộ, phủ xanh đất hoang, đồi núi trọc, hạn chế thoái hóa đất và hoang mạc hóa ở những vùng khô hạn duyên hải Nam Trung Bộ.

Giá trị kinh tế nhất của cây Trôm là gôm Trôm. Gôm Trôm chứa nhiều chất dinh dưỡng có giá trị cao, có tác dụng điều hòa đường huyết, ổn định huyết áp, mát gan, giải độc gan, mau lành vết thương, chống táo bón... Đây là loại nguyên liệu quan trọng dùng trong công nghiệp chế biến nước giải khát. Các bộ phận của cây Trôm có thể dùng làm thuốc và thực phẩm: hạt, dầu hạt, cơm hạt, gôm, vỏ cây, lá cây ... Vỏ cây Trôm có tác dụng lợi tiểu, sắc uống chữa phong thấp, lá trôm sắc uống chữa những chỗ phát ban lở loét, các bệnh về da…

Cây Trôm là cây nhiệt đới có 4 dạng thực vật: Trôm đỏ, Trôm hoa nhỏ, Trôm Nam bộ và Trôm hôi. Trong đó Trôm hôi là loại cây có giá trị kinh kế cao vừa là cây thuốc và cũng là cây thực phẩm. Cây trôm nếu được chăm sóc tốt, từ 5 đến 7 năm sẽ cho thu hoạch quanh năm, cách 1 tuần thu hoạch gôm 1 lần. Một cây trôm trồng sau 7 đến 10 năm có thể thu được 3 - 4 triệu đồng (chỉ tính gôm).

H5. Cây trôm

 

Yêu cầu sinh thái

 

Điều kiện về đất

Cây Trôm sinh trưởng tốt trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, ẩm, thoát nước tốt. Các loại đất có thành phần cơ giới nặng, thoát nước kém hay đất bí chặt, đất có độ đá lẫn hơn 40% ít thích hợp cho việc trồng Trôm.

Điều kiện về khí hậu

- Trôm là cây ưa ánh sáng, mọc nhanh,

- Cây sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ trung bình năm từ 24 - 30 độ C. Trôm sinh trưởng quanh năm, đặc biệt thích hợp với vùng có chế độ khí hậu khô hạn.

- Lượng mưa trung bình năm từ 600 mm trở lên.

- Độ ẩm không khí >70 %.

Kỹ thuật trồng

Có thể trồng Trôm thuần loại trên rẫy cũ hay đang canh tác, trên đất cát cố định nghèo dinh dưỡng.

- Xử lý thực bì: Xử lý thực bì cục bộ theo băng và được bố trí theo đường đồng mức, chiều rộng băng 2 mét.

- Làm đất: Sau khi phát dọn thực bì xong tiến hành đào hố theo qui cách 40cm x 40cm x 40cm. Khi đào hố phải cho lớp đất mặt qua một bên, đất phía dưới qua một bên. Việc đào hố phải hoàn thành trước khi trồng 10-15 ngày để có điều kiện kiểm tra quy cách hố trồng. Nơi có điều kiện nên bón lót mỗi hố 1 kg phân chuồng hoai và trộn đều trước khi trồng cây.

Bố trí mật độ trồng cây 4 m x 6 m (cây cách cây 4m, hàng cách hàng 6m) tương đương 416 cây/ha hoặc 5m x 5m (hàng cách hàng 5m, cây cách cây 5m) tương đương 400 cây/ha.

 

 

   

H6-7. Hoa trôm, quả trôm

 

CÂY PHI LAO 

 

Tên khác: Xi lau, dương, dương liễu

Hình thái

Cây Phi Lao là cây gỗ thường xanh, trung bình hay lớn, cao 15-25cm, đường kính 20-40cm hay hơn. Vỏ nâu nhạt, bong thành mảng, thịt nâu hồng. Cành nhỏ, có đốt, màu xanh lá cây và làm nhiệm vụ quang hợp thay cho lá. Lá tiêu giảm thành vảy nhỏ, bao quanh các đốt của cành, dài 1-2mm.

Hoa đơn tính, cùng gốc. Cụm hoa đực hình đuôi sóc, gồm rất nhiều hoa đực mọc vòng, không có bao hoa; chỉ gồm 1 nhị, lúc đầu có chỉ ngắn, sau kéo dài; bao phấn 2 ô. Cụm hoa cái đơn độc, mọc ở ngọn các cành bên; hoa cái cũng không bao hoa, đính vào nách của 1 lá bắc. Bầu 1 ô, 2 noãn, nhưng chỉ một noãn phát triển. Quả tập hợp trong một cụm quả (quả phức) hình bầu dục, hoá gỗ với các lá bắc tồn tại. Hạt 1, không có nội nhũ.

H8. Cây phi lao

 

Các thông tin khác về thực vật

Hiện nay ở Việt Nam có 4 loài thuộc chi Phi lao (Casuarina Adans) đã được nhập nội từ châu Úc, đó là:

Phi lao (Casuarina equisetifolia Forst). Cây gỗ lớn, là một trong những cây gỗ trồng rừng và trồng làm cây bóng mát quan trọng của Việt Nam.

Phi lao cunningham (C. cunninghamiana Miq.). Cây gỗ nhỏ trồng làm cảnh.

Phi lao junghun (C. junghunian Miq.). Cây gỗ nhỏ, trồng làm cảnh

Phi lao hoa trần (C. nudiflora Forst.). Cây gỗ nhỏ, trồng làm cảnh.

Trong 4 loài trên chỉ có loài phi lao là cây gỗ lớn, được nhập vào Việt Nam từ rất lâu đời để trồng trên các bãi cát ven biển, còn 3 loài phi kia là cây gỗ nhỏ, mới được nhập nội, để trồng trong làm cảnh các thành phố lớn, thời gian gần đây.

Đặc điểm sinh học

Phi lao có phạm vi thích ứng về mặt khí hậu tương đối rộng, từ khu vực xích đạo mưa nhiều, lượng mưa trung bình năm trên 2.000mm và không có mùa khô, đến khu vực khí hậu gió mùa có lượng mưa thấp 700-800mm và mùa khô kéo dài 6-7 tháng. Nhưng ở các khu vực này, phi lao thường sống trên các bãi cát ven biển. Thích hợp các loại đất cát pha nhẹ, tốt, sâu, ẩm, thoát nước, độ pH 6,5-7,0.

Cây sinh trưởng nhanh, cành lá xum xuê, hệ rễ phát triển, rễ cọc ăn sâu đến 2m, rễ ngang lan rộng và có vi khuẩn cố định đạm Frankia; có thể chịu được gió bão cấp 10, chịu được cát vùi lấp, trốc rễ. Thân cây chịu được cát va đập, nếu cây bị cát vùi lấp, nó có thể ra lớp rễ phụ mới ở ngang mặt đất vì vậy ở Việt Nam, tới nay phi lao vẫn là cây gỗ số một được trồng trên vùng cát cố định và cát bay ven biển. Sau khi trồng 1 năm, cây có thể đạt chiều cao 2-3m, đường kính 3cm; cây 4 tuổi cao 11-12m, đường kính 12-15cm; cây 10 tuổi cao 18-20m, đường kính trên 20cm. Thông thường trên 25 tuổi, cây ngừng sinh trưởng chiều cao, đến 30-50 tuổi cây trở nên già cỗi.

Phi lao sinh trưởng quanh năm, nhưng vào mùa mưa, cây sinh trưởng nhanh hơn. Ở giai đoạn tuổi nhỏ cây chịu khô và chịu rét kém; vượt qua giai đoạn này cây sinh trưởng tốt hơn.

Cây tái sinh chồi rất tốt. Trên thân cây có nhiều rễ bất định, do đó thân cây bị vùi lấp tới đâu, cây vẫn ra rễ được ở nơi đó và sinh trưởng bình thường.

Cây sinh trưởng tốt nhất trên đất cát mới bồi tụ ven biển và đồng bằng; cũng có thể sống được trên đất cát nghèo, đất dốc tụ có tầng dày, thành phần cơ giới nhẹ, độ pH 5,5. Nhưng trên đất quá khô xấu, đất đồi tầng mỏng, lẫn nhiều đá, đất có thành phần cơ giới nặng, bí chặt, độ pH 4-4,5, cây sinh trưởng rất kém; lá vàng đỏ, thường biến dạng thành cây bụi, thấp, thân nhỏ, cành loà xoà trên mặt đất hoặc bị chết dần.

 

Trồng cây:

Vùng trồng phi lao có lượng mưa từ 1.500-2.500mm/năm; nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất 150C, tháng nóng nhất 26-290C. Cây thích hợp nhất với đất cát ven biển.

Thời vụ trồng: Ở vùng đồng bằng có thể trồng vào các vụ xuân, thu. Vùng cát chịu ảnh hưởng gió lào trồng vào vụ thu (tháng 9). Chú ý chọn ngày thời tiết tốt (có mưa, không có gió mạnh và nắng hanh).

Có thể trồng rễ trần hoặc bầu đất, tuỳ vùng, tuỳ thời tiết khi trồng. Riêng vùng cát di động và bán di động bắt buộc phải trồng bằng bầu.

Kích thước hố trồng 30x30x30cm hoặc 40x40x40cm. Mật độ trồng ở vùng đồng bằng 3.300cây/ha, ở vùng cát di động 5.000cây/ha. Khi trồng phải chú ý chôn sâu, nện chặt, có thể sâu 1/3 thân cây và nên bón lót bằng phân chuồng hoai hoặc rong biển (theo kinh nghiệm lâm trường Nam Quảng Bình, bón 0,5kg phân rong biển + 50g phân lân vi sinh cho 1 gốc).

CÂY KEO LAI

Tên phổ thông : Keo Lai

Tên khoa học  : Acacia auriculiformis mangium , Acacia hybrid

Họ thực vật     : Đậu – Fabaceae

Nguồn gốc xuất xứ : Austrailia

Phân bổ ở Việt Nam : rộng khắp

Đặc điểm hình thái:

Thân, tán , lá: Cây gỗ cao đến 25-30m, đường kính 60-80cm. Thân gỗ thẳng, tròn đều, tán phát triển cân đối, màu vàng trắng có vân, có giác lõi phân biệt. Lá có 3-4 gân mặt chính, hình mác.

Hoa, quả, hạt: Hoa lưỡng tính mọc cụm, màu trắng hơi vàng, mọc ở nách lá.

Đặc điểm sinh lý, sinh thái:

Tốc độ sinh trưởng: nhanh

Phù hợp với: cây ưa sáng, chủ yếu trồng trên đất xám, đất feralit. Chịu được khô hạn, nhiệt độ trung bình. Độ cao khoảng từ 500-800m so với mực nước biển, độ dốc thấp.

Cây có khả năng cải tạo đất, chống xóa mòn, chống cháy rừng. Gỗ thẳng, có tác dụng nhiều mặt: kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu.

CÂY KEO LÁ TRÀM

Tên khoa học: Acacia auriculiformis

Keo lá tràm là dạng cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 30 m. Loài cây này phân cành thấp, tán rộng. Vỏ cây có rạn dọc, màu nâu xám. Lá cây là lá giả, do lá thật bị tiêu giảm, bộ phận quang hợp là lá giả, được biến thái từ cuống cấp 1, quan sát kỹ có thể thấy dấu vết của tuyến hình chậu còn ở cuối lá giả) có hình dạng cong lưỡi liềm, kích thước lá giả rộng từ 3–4 cm, dài từ 6–13 cm, trên lá giả có khoảng 3 gân dạng song song, ở cuối lá có 1 tuyến hình chậu.

Hoa tự dạng bông đuôi sóc, tràng hoa màu vàng. Quả dạng đậu xoắn, hạt màu đen, có rốn hạt khá dài màu vàng như màu của tràng hoa.

Keo lá tràm là thực vật quen sống ở nơi có khí hậu nóng, với khả năng chịu hạn tốt tuy nhiên chịu rét lại kém. Nhiệt độ trung bình cho cây phát triển là 24 độ bách phân với lượng mưa 2.000-5.000mmm hàng năm. Cây mọc tốt trên đất có độ dày trung bình, có khả năng thoát nước khá tốt, độ pH gần trung tính, hơi chua

Keo lá tràm là loài cây thuộchọ Đậu, ở rễ có nốt sần ký sinh chứavi khuẩn nốt rễcó tác dụng tổng hợpđạmtự do, cải tạo môi trường đất, chống xói mòn và rừng phòng hộ, khối lượng vật rơi rụng của keo lá tràm hàng năm cũng rất cao, cây keo lá tràm thường được dùng nhiều trong cải tạo đất sản xuất lâm nghiệp. Đặc điểm sinh trưởng của loài này khá nhanh và thích nghi rộng, nên keo lá tràm nhanh chóng trở thành loài cây được trồng phủ xanh đất trống đồi trọc và cho nguyên liệu bột giấy.

Loài cây này cũng được trồng như là cây cảnh, cây lấy bóng râm và trồng trong các đồn điền để lấy gỗ ở khu vực Đông Nam Á và Sudan. Gỗ của nó có thể dùng trong sản xuất giấyđồ gỗ gia dụng và các công cụ. Nó có chứa tanin nên có thể dùng trong công nghiệp thuộc da. Tại Ấn Độ, gỗ và than củi từ keo lá tràm dùng làm nguồn nhiên liệu. Nhựa gôm từ keo lá tràm cũng được buôn bán ở quy mô thương mại, nhưng người ta cho rằng nó ít có ích hơn khi so vớigôm Ả Rập (lấy từ Acacia senegal hay Acacia seyal). Loài cây này cũng được thổ dân Australia dùng làm thuốc giảm đau. Các chất chiết ra từ gỗ lõi của keo lá tràm có tác dụng chống nấm làm hỏng gỗ.

Thời vụ trồng rừng:

 

+ Vụ xuân trồng xong trước tháng 4

+ Vụ thu trồng xong trước 15/11

Mật độ trồng rừng keo lá tràm

1600-2000 cây/ ha, hàng cách hàng 3 m, cây cách cây 2 m.

Chuẩn bị đất trồng:

Nơi đất dốc

Bón lót và san lấp hố

Bón lót cho mỗi hố 3 kg phân chuồng hoai +200 g NPK. Đập đất tơi nhỏ, loại bỏ đá, rễ cây, tạp vật khác, lấp 1/2 hố. Trộn đều phân chuồng với NPK, bỏ vào hố, dùng cuốc xáo trộn đất, sau đó lấp đất đầy hố.
San lấp hố và bón lót phân phải hoàn thành ít nhất 15 ngày trước khi trồng cây.

2016.05.30. TT tổng hợp từ Internet